Lượt xem:
Đồng chí Phạm Văn Đồng là nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con ưu tú của quê hương Quảng Ngãi.
Nhắc đến Phạm Văn Đồng là nhắc đến quê hương Quảng Ngãi – vùng đất miền Trung giàu truyền thống yêu nước, kiên cường và bất khuất. Quảng Ngãi không chỉ nổi tiếng với những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, mà còn là nơi sản sinh ra nhiều nhân tài, chí sĩ yêu nước qua các thời kỳ lịch sử. Chính truyền thống ấy đã nuôi dưỡng và hun đúc nên nhân cách, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh của người con Phạm Văn Đồng.
Sinh ngày 01 tháng 3 năm 1906 tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi), Phạm Văn Đồng lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước. Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã sớm tiếp thu tinh thần dân tộc, ý thức sâu sắc về thân phận mất nước và khát vọng độc lập, tự do cho dân tộc.
Từ thời trẻ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã sớm giác ngộ cách mạng, đã biết đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tìm hiểu tư tưởng cách mạng của Người thông qua sách báo được truyền bá vào Việt Nam lúc bấy giờ như báo “Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Tạp chí thư tín quốc tế”…
Năm 1926, Đồng chí được sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Đây là một bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng. Ý chí cách mạng, lý tưởng cộng sản và tinh thần yêu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ảnh hưởng sâu sắc tới tình cảm và lý tưởng của đồng chí, biến đồng chí từ một thanh niên yêu nước trở thành một chiến sĩ cách mạng chân chính.
Đầu năm 1927, Phạm Văn Đồng từ Quảng Châu về Hà Nội, tiếp đó vào hoạt động tại Sài Gòn và được bầu làm Bí thư Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam kỳ. Đầu tháng 5-1929, tại Hồng Kông, Phạm Văn Đồng tham dự Đại hội I, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sau một thời gian hoạt động, củng cố các tổ chức cách mạng tại Trung kỳ, tháng 7-1929, Phạm Văn Đồng trở vào Nam hoạt động, nhưng khi vừa xuống ga Sài Gòn thì bị mật thám Pháp bắt; tiếp đó bị kết án 10 năm tù giam; tháng 7-1930 bị đưa ra giam giữ tại Côn Đảo. Giữa năm 1936, trước áp lực các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của Nhân dân ta và phong trào Mặt trận Nhân dân Pháp, đồng chí Phạm Văn Đồng được trả tự do, trở lại Hà Nội. Tuy bị quản thúc, Đồng chí vẫn tìm cách bắt liên lạc với Đảng và tiếp tục hoạt động cách mạng.
Trong suốt 15 năm đầu đi theo con đường cách mạng (1926-1940), Đồng chí luôn vượt qua mọi khó khăn, gian nguy, mang hết nhiệt tình, tài năng và trí tuệ của mình cống hiến cho cách mạng với niềm tin sắt đá vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Đầu năm 1940, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng những nhiệm vụ quan trọng. Cũng từ đây, bắt đầu một thời kỳ dài gần 30 năm (cho tới khi Bác mất), đồng chí Phạm Văn Đồng thường xuyên làm việc bên Bác, theo sự chỉ dẫn và phân công của Người.
Là một trong những cán bộ tiền bối, được Bác Hồ trực tiếp giáo dục và rèn luyện, đồng chí Phạm Văn Đồng đã trở thành người học trò xuất sắc, một cộng sự gần gũi và thân thiết của Bác Hồ. Đồng chí thể hiện những phẩm chất cao quý của một người cộng sản trung kiên, mẫu mực, đó là đức tính: Tận trung với nước, tận hiếu với dân; dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm; Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; chống quan liêu, tham ô, lãng phí; nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, nhân cách; có tấm lòng nhân ái, bao dung…
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Phạm Văn Đồng đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước. Đồng chí được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính của Chính phủ lâm thời; được Quốc hội khóa I bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Cuối tháng 5/1946, Đồng chí được cử làm Trưởng Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán chính thức với Chính phủ Cộng hòa Pháp tại Hội nghị Phông-ten-nơ-blô. Tháng 01/1947, Đồng chí là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí là Đặc phái viên của Trung ương và Chính phủ chỉ đạo trực tiếp công cuộc kháng chiến, kiến quốc ở Nam Trung Bộ. Năm 1949, Đồng chí trở lại Việt Bắc, được cử là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đảm nhận cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao. Từ Đại hội II đến Đại hội VI của Đảng (1951 – 1986), Đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và là Ủy viên Bộ Chính trị. Từ năm 1955 – 1987, Đồng chí được giao đảm nhiệm trọng trách Thủ tướng Chính phủ (1955 – 1981), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 – 1987); kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng (1954 – 1961); là Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (1954).
Dù ở cương vị nào, đồng chí Phạm Văn Đồng cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và giữ cách sống mẫu mực của một đảng viên cộng sản chân chính theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí luôn là tấm gương mẫu mực về một người cán bộ lãnh đạo, tận tâm tận lực, vì dân, vì nước, liêm khiết, khiêm tốn, giản dị, gần gũi với nhân dân.
Trên cương vị Phó Thủ tướng, rồi Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Đồng chí hết sức quan tâm tới công tác củng cố bộ máy chính quyền Nhà nước. Đồng chí thường nói: “Việc tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân là một nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân, Đồng chí nhấn mạnh: “nguyên tắc tổ chức của Nhà nước chúng ta là nguyên tắc tập trung dân chủ. Dân chủ và tập trung là hai mặt không thể thiếu và phải mật thiết liên quan với nhau, kết hợp chặt chẽ với nhau”. Trong hơn 30 năm đứng đầu Chính phủ, Đồng chí luôn trăn trở, nghiên cứu lý luận và thực tiễn, xây dựng tiền đề, tạo lập và phát triển một chính quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa phù hợp với bản sắc của dân tộc Việt Nam.
Trong lãnh đạo kinh tế, Đồng chí luôn đòi hỏi mọi cán bộ phải làm việc thật sự hiệu quả, có năng suất và chất lượng cao, phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Ngay từ khi đất nước giành được độc lập, ở cương vị Bộ trưởng Bộ Tài chính đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Đồng chí đã có nhiều chủ trương sáng suốt giải quyết những vấn đề khó khăn về tài chính lúc bấy giờ. Trên cương vị Phó Thủ tướng rồi Thủ tướng Chính phủ trong hai cuộc kháng chiến, Đồng chí luôn hướng tới tổ chức bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, ít tốn kém, hoạt động hiệu quả; tích cực lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế; đảm bảo cuộc sống của Nhân dân; huy động sức người, sức của cho kháng chiến và kiến quốc. Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đồng chí luôn trăn trở trước những khó khăn của nền kinh tế, chỉ đạo mở cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh, từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp. Đó là bước khởi đầu quan trọng của tư duy đổi mới đất nước.
Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, Đồng chí cho rằng Đảng phải chăm sóc cán bộ, đảng viên “như người làm vườn, vừa vun xới cho cây, cho hoa, vừa phải nhổ cỏ trừ sâu, và nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, diệt sâu phải diệt từ trứng. Có như thế hoa mới càng đẹp, quả mới càng ngon”. Trăn trở trước tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, Đồng chí cho rằng phải “quét dọn mọi rác rưởi và dơ bẩn”, “có như vậy chúng ta mới có môi trường và cơ hội thuận lợi để làm tốt các công tác khác”. Ý thức trách nhiệm và những quan điểm chỉ đạo của đồng chí Phạm Văn Đồng là rất xác đáng và có ý nghĩa thời sự to lớn đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong mọi giai đoạn.
Trên cương vị Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tuy tuổi cao, sức yếu, đồng chí Phạm Văn Đồng vẫn mang hết khả năng, trí tuệ, nhiệt huyết nghiên cứu, suy nghĩ để đề đạt ý kiến với Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, góp phần xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng trên các lĩnh vực.
Gần một thế kỷ của cuộc đời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tận lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, được các tầng lớp nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế yêu mến và kính trọng. Là một nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam, công lao, nhân cách của Thủ tướng mãi là tấm gương sáng để các thế hệ con cháu tôn vinh và học tập.
Rời quê hương khi tuổi đời còn rất trẻ để tham gia hoạt động cách mạng, song hình ảnh làng quê nghèo khó, những người dân lam lũ, nghĩa tình vẫn luôn in đậm trong tâm trí đồng chí Phạm Văn Đồng.
Dù công tác ở bất cứ cương vị nào, đồng chí Phạm Văn Đồng luôn hướng về quê hương Quảng Ngãi bằng tình cảm chân thành và trách nhiệm thiết thực. Nhiều lần về thăm quê, ông ân cần hỏi thăm đời sống Nhân dân, động viên cán bộ, đảng viên địa phương nỗ lực phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững truyền thống cách mạng. Đồng chí luôn quan tâm sâu sắc đến từng vấn đề cụ thể của tỉnh nhà và đặc biệt quan tâm đến công tác khôi phục sản xuất, chăm lo đời sống Nhân dân, phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, mong muốn Quảng Ngãi vươn lên thoát khỏi đói nghèo, khai thác hiệu quả tiềm năng về đất đai, biển đảo, phát huy lợi thế của một tỉnh duyên hải miền Trung. Ông luôn nhấn mạnh rằng, muốn quê hương phát triển bền vững thì phải đặt trọng tâm vào con người, vào giáo dục, vào việc phát huy truyền thống hiếu học và tinh thần đoàn kết của con người Quảng Ngãi.
Với 75 năm hoạt động cách mạng, trong đó có 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã có nhiều cống hiến to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta. Dù giữ trọng trách đứng đầu Chính phủ trong nhiều thập niên, ông vẫn giữ nếp sống mộc mạc, gần gũi, không màng danh lợi. Tài sản riêng hầu như không có gì đáng kể; ngôi nhà, vật dụng sinh hoạt đều đơn sơ. Sự giản dị ấy không phải là hình thức, mà bắt nguồn từ ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức suốt đời.
Tại Khu lưu niệm đồng chí Phạm Văn Đồng ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi) có hơn 500 hình ảnh, hiện vật gắn bó mật thiết với cuộc đời của đồng chí Phạm Văn Đồng. Nhiều hình ảnh, vật dụng thể hiện sự gần gũi, giản dị, thủy chung trong hoạt động cách mạng cũng như cuộc sống thường ngày của một người cộng sản kiên cường, mẫu mực, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam.
Tên tuổi Phạm Văn Đồng đã trở thành niềm tự hào của Đảng bộ và Nhân dân Quảng Ngãi. Nhiều công trình, trường học, tuyến đường mang tên ông như một sự tri ân sâu sắc đối với người con ưu tú của quê hương. Nhưng hơn hết, di sản lớn nhất mà đồng chí để lại chính là giá trị tinh thần – là tấm gương sáng để mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân hôm nay và mai sau noi theo.
Quảng Ngãi hôm nay đang chuyển mình mạnh mẽ, với những khu công nghiệp, cảng biển, đô thị mới ngày càng phát triển. Song trong hành trình đi tới tương lai, tỉnh Quảng Ngãi luôn cần gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống – trong đó có di sản tinh thần của đồng chí Phạm Văn Đồng – Người con ưu tú của quê hương Quảng Ngãi đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của đất nước, của Nhân dân.
(Ngô Văn Trọng, UVBTV Tỉnh ủy,
Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy)


